Dự thảo V/v: Quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2009

Quảng cáo

bacbinhtieuthu

Thành viên mới
Tham gia ngày
22 Tháng ba 2009
Bài viết
44
Được thích
304
Điểm
0
Tuổi
35
Nơi ở
Gò Vấp
Đọc qua bài viết: Phải quyết toán thuế thu nhập cá nhân trước ngày 31-3-2010 . Gởi các bác công văn của Tổng Cục Thuế dự thảo V/v: Quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2009 để cùng tham khảo


Kính gửi: Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Năm 2009 là năm đầu tiên thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN); so với các chính sách thuế động viên vào thu nhập của cá nhân trước đây thì chính sách thuế TNCN có nhiều điểm mới, phương pháp quản lý thuế nói chung và quyết toán thuế nói riêng cũng có nhiều thay đổi.

Năm 2009 cũng là năm Chính phủ đã triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh, duy trì tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội; Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 160/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009 hướng dẫn việc miễn thuế TNCN theo Nghị quyết số 32/2009/QH12 của Quốc hội. Theo đó, một số khoản thu nhập được miễn thuế TNCN; các tổ chức , cá nhân chi trả thu nhập (sau đây gọi chung là tổ chức chi trả thu nhập) và cá nhân có thu nhập khi quyết toán thuế năm 2009 không phải kê khai quyết toán đối với các khoản thu nhập được miễn này.

Để việc quyết toán thuế TNCN năm 2009 được thực hiện theo đúng quy định của Luật thuế TNCN, Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế TNCN, Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 và Thông tư số 160/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009 của Bộ Tài chính; Tổng cục Thuế hướng dẫn việc quyết toán thuế TNCN năm 2009 như sau:

I. ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG QUYẾT TOÁN THUẾ TNCN VÀ HỒ SƠ QUYẾT TOÁN THUẾ TNCN:
1. Đối tượng phải quyết toán thuế TNCN:

Theo hướng dẫn tại Thông tư số 84/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính thì các đối tượng phải quyết toán thuế TNCN bao gồm:
- Tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập.
- Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh có số thuế phải nộp lớn hơn số thuế đã khấu trừ tạm nộp; hoặc cá nhân có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ số thuế nộp thừa vào kỳ sau;​
Cơ quan thuế trực tiếp quản lý các đơn vị chi trả thu nhập, cá nhân nộp thuế phải chủ động thông báo sớm nghĩa vụ quyết toán thuế để các đối tượng phải quyết toán thuế được biết; đồng thời phổ biến, hướng dẫn cho các đơn vị chi trả thu nhập và cá nhân thực hiện kê khai, nộp hồ sơ quyết toán thuế đúng quy định.

Theo hướng dẫn tại Thông tư số 84/2008/TT-BTC và Thông tư số 57/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính thì các tổ chức Liên hợp quốc, các Đại sứ quán không thuộc đối tượng đăng ký thuế nhưng có trách nhiệm cung cấp thông tin. Trên thực tế có đơn vị vẫn khấu trừ và khai nộp thuế TNCN; đề nghị Cục Thuế hướng dẫn các tổ chức Liên hợp quốc, các Đại sứ quán cung cấp danh sách cá nhân nhận thu nhập để các đơn vị được biết.

2. Về kê khai quyết toán thuế của tổ chức chi trả thu nhập:
Theo hướng dẫn tại Thông tư số 160/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009 của Bộ Tài chính thì đơn vị chi trả thu nhập chỉ phải kê khai quyết toán thuế đối với các khoản thu nhập không thuộc diện được miễn thuế TNCN; đối với các khoản thu nhập được miễn thuế không phải kê khai; cụ thể như sau:

2.1/ Các khoản thu nhập phải kê khai quyết toán:

a/ Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công:

Nếu chi trả cho cá nhân cư trú (đối tượng được miễn thuế 6 tháng đầu năm 2009 theo hướng dẫn tại Thông tư số 160/2009/TT-BTC); đơn vị chi trả thu nhập không phải kê khai quyết toán đối với phần thu nhập thuộc diện được miễn thuế trong 6 tháng đầu năm 2009, chỉ phải kê khai quyết toán đối với thu nhập chịu thuế và số thuế đã khấu trừ phát sinh từ ngày 01/7/2009 đến ngày 31/12/2009. Cụ thể các khoản thu nhập được miễn thuế, không phải kê khai quyết toán xác định như sau:

- Đối với tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể hoặc theo quyết định lương thì thu nhập được miễn thuế TNCN được xác định căn cứ vào Bảng thanh toán tiền lương, tiền công chi trả từ tháng 01/2009 đến hết tháng 06/2009.

Trường hợp đơn vị chi trả thu nhập theo kết quả công việc, hàng tháng tạm thanh toán tiền lương, kết thúc công việc hoặc cuối năm mới quyết toán thì thu nhập được miễn thuế sẽ được xác định theo quyết toán.

Trường hợp vì lý do khách quan người lao động nhận được tiền lương của các tháng từ tháng 01 đến hết tháng 06/2009 sau thời điểm chi trả (sau ngày 30/6/2009) thì vẫn được miễn thuế đối với khoản thu nhập này nhưng chậm nhất là không quá ngày 31/12/2009.

- Đối với tiền lương, tiền công, tiền thưởng của năm 2008 trở về trước nhưng chi trả trong 6 tháng đầu năm 2009 thì vẫn thuộc thu nhập được miễn thuế; đơn vị chi trả thu nhập cũng không phải kê khai quyết toán thuế, nếu chi trả vào 6 tháng cuối năm 2009 thì phải kê khai vào thu nhập chịu thuế để quyết toán thuế.

- Đối với các khoản tiền thưởng:

+ Trường hợp đơn vị chi trả thu nhập chi tiền thưởng tháng (của các tháng từ tháng 01 đến hết tháng 06/2009) hoặc chi tiền thưởng quý I, quý II/2009 trong năm 2009 thì không phải kê khai quyết toán. Nếu đơn vị chi trả các khoản tiền thưởng này sau ngày 31/12/2009 thì sẽ không thuộc diện được miễn thuế TNCN, đơn vị cũng không phải khai quyết toán đối với thuế TNCN năm 2009 mà sẽ tính vào thu nhập của người lao động trong năm 2010.

+ Trường hợp đơn vị chi trả thu nhập chi tiền thưởng của cả năm 2009 chi một năm chi một lần; đối với người lao động làm việc đủ 12 tháng trong năm thì ½ số tiền thưởng cả năm sẽ được miễn thuế TNCN (đơn vị chi trả không phải kê khai quyết toán thuế), ½ số tiền thưởng cả năm không được miễn thuế TNCN, đơn vị chi trả phải kê khai quyết toán năm 2009; đối với người lao động làm việc không đủ 12 tháng trong năm thì khoản tiền thưởng sẽ được phân chia tương ứng với số tháng làm việc để áp dụng miễn thuế.​

Ví dụ: Trong năm 2009, ông A làm việc tại công ty X tổng cộng là 8 tháng (từ 01/5/2009 đến 31/12/2009), Cuối năm ông A được Công ty thưởng cho 6 triệu đồng cho thành tích công tác của cả năm. Số tiền thưởng năm thuộc diện miễn thuế TNCN của ông A được xác định như sau:

Trong 6 tháng đầu năm ông A làm việc được 02 tháng, tương đương ¼ thời gian làm việc của ông A trong năm 2009 (2 tháng/8 tháng). Như vậy số tiền thưởng được miễn thuế TNCN là: 1,5 triệu đồng (= 1/4 x 6 triệu đồng).

Trường hợp khoản tiền thưởng năm 2009 được chi trả vào quý I năm 2010 thì ½ số tiền thưởng được miễn (đơn vị không phải kê khai quyết toán năm 2010); ½ số tiền thưởng đơn vị sẽ phải khấu trừ thuế và kê khai quyết toán thuế năm 2010.

+ Tương tự như tiền lương, đối với tiền thưởng của năm 2008 trở về trước nếu chi trả trong 86 tháng đầu năm thì được miễn thuế TNCN, nếu chi trả trong 6 tháng cuối năm 2009 phải kê khai vào thu nhập chịu thuế khi quyết toán thuế TNCN.

- Đối với các khoản lợi ích khác (bằng tiền hoặc không bằng tiền): nếu chi trả trong 6 tháng đầu năm 2009 thì không phải kê khai quyết toán, nếu chi vào 6 tháng cuối năm 2009 thì phải kê khai quyết toán thuế năm 2009.

+ Đối với cá nhân được đơn vị chi trả thu nhập bố trí phương tiện đưa đón từ nhà đến nơi làm việc và ngược lại hàng ngày (trừ các đối tượng được hưởng theo quy định của Thủ tướng Chính phủ) thì phải tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân thụ hưởng khoản lợi ích này.

Đơn vị chi trả thu nhập căn cứ vào thời gian sử dụng phương tiện, chi phí nhiên liệu phục vụ đưa đón cá nhân và các chi phí khác (nếu có) tự xác định thu nhập mà cá nhân hưởng thụ để kê khai vào thu nhập chịu thuế của cá nhân đó, đông thời thông báo cho cá nhân thu hưởng biết để cá nhân kê khai vào thu nhập chịu thuế của mình khi quyết toán thuế.

+ Đối với cá nhân được đơn vị chi trả thu nhập bố trí ở tại nơi làm việc thì phải tính vào thu nhập của cá nhân thụ hưởng khoản lợi ích này. Thu nhập này được xác định căn cứ vào chi phí khấu hao tính theo tỷ lệ giữa diện tích cá nhân đó sử dụng với diện tích sử dụng của căn nhà đó.

+ Đối với các khoản khoán chi như văn phòng phẩm, điện thoại, trang phục nếu đơn vị đã có văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về chế độ chi thì thực hiện theo hướng dẫn đó và không tính vào thu nhập của cá nhân nhận khoán chi hành chính. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền không có quy định mức khoán chi thì thực hiện theo quyết định của Hội đồng quản trị hoặc giám đốc (đối với doanh nghiệp); các trường hợp chi cao hơn mức khoán quy định đều phải tính vào thu nhập chịu thuế.

b. Đối với thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chứng khoán, tiền bản quyền, nhượng quyền thương mại: nếu chi trả các khoản thu nhập từ đầu tư vốn, từ chuyển nhượng vốn, từ bản quyền, từ nhượng quyền thương mại của năm 2009 thì đơn vị chi trả không phải kê khai quyết toán thuế; nếu ứng trước các khoản thu nhập này có nguồn gốc của năm 2010 (và những năm tiếp theo) thì phải tính thuế và kê khai quyết toán thuế năm 2009 đối với phần thu nhập chi trả ứng trước.

Đối với các khoản tu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chứng khoán của năm 2008 trở về trước, năm 2009 mới chi trả thì cũng thuộc thu nhập được miễn thuế TNCN, đơn vị chi trả không phải khai quyết toán thuế TNCN.

c. Đối với thu nhập từ trúng thưởng: thu nhập từ trúng thưởng không thuộc diện được miễn thuế theo hướng dẫn tại Thông tư số 160/2009/TT-BTC; vì vậy đơn vị chi trả các khoản tiền thưởng phải khấu trừ thuế và kê khai quyết toán theo quy định.

2.2. Hồ sơ khai quyết toán thuế bao gồm:

- Tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo mẫu số 05/KK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư 84/2008/TT-BTC và các bảng kê chi tiết ban hành kèm theo TT này, cụ thể như sau:
+ Bảng kê thu nhập từ tiền lương, tiền công trả cho cá nhân có ký hợp đồng lao động theo mẫu số 05A/BK-TNCN: phản ánh chi tiết họ tên, thu nhập đã trả cho từng cá nhân, không phân biệt thu nhập đã đến mức phải nộp thuế hay chưa phải nộp thuế. Trường hợp đơn vị chi trả thu nhập quyết toán hộ người lao động thì phản ánh số thuế đã khấu trừ theo thực tế quyết toán năm.
+ Bảng kê thu nhập từ tiền lương, tiền công trả cho cá nhân không ký hợp đồng lao động theo mẫu số 05B/BK-TNCN, phản ánh chi tiết họ tên, tổng thu nhập bao gồm cả các khoản chi hoa hồng (trừ hoa hồng đại lý bảo hiểm, xổ số); đơn vị đã chi trả trong 6 tháng cuối năm không phân biệt có khấu trừ thuế TNCN hay không.

- Trường hợp phát sinh khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ trúng thưởng, phải lập tờ khai theo mẫu số 06/KK-TNCN và lập Bảng kê chi tiết theo mẫu số 06D/BK-TNCN;

- Đối với các tổ chức chi trả thu nhập trong Khu kinh tế: ngoài các Hồ sơ quyết toán theo quy định đối với từng loại thu nhập nêu trên, còn phải lập danh sách cá nhân được giảm thuế theo mẫu số 01/KKQT-TNCN ban hành kèm theo Thông tư số 176/20092TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc giảm thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân làm việc tại khu kinh tế.

- Đối với các Công ty bảo hiểm, Công ty xổ số có chi trả thu nhập cho các đại lý phải thực hiện lập bảng kê quyết toán số thuế thu nhập cá nhân đã khấu trừ của các đại lý theo mẫu số 02/KK-XS, Bảng kê kèm theo mẫu số 02A/BK-XS ban hành kèm theo Thông tư số 42/2009/TT-BTC ngày, mẫu số 02/KK-BH ban hành kèm theo Thông tư số 10/2009/TT-BTC ngày 21/01/2009 của Bộ Tài chính. Trong đó, nếu chi trả thu nhập theo từng tháng thì không phải khai thu nhập đã chi trả từ tháng 01/2009 đến hết tháng 6/2009; trường hợp thanh toán các khoản thu nhập không theo tháng thì phải căn cứ vào hợp đồng, tỷ lệ hoa hồng và các khoản thu nhập chịu thuế khác trên doanh thu để xác định thu nhập được miễn thuế trong 6 tháng đầu năm 2009, thu nhập phải tính vào thu nhập chịu thuế để kê khai quyết toán thuế TNCN.

Cơ quan thuế hướng dẫn đơn vị chi trả thu nhập lập tờ khai quyết toán cần lưu ý:

- Các Bảng kê chi tiết kèm theo Tờ khai quyết toán là phản ánh danh sách tất cả các cá nhân nhận thu nhập không phân biệt đến mức khấu trừ thuế TNCN hay chưa.

- Việc kê khai các chỉ tiêu số liệu trong tờ khai quyết toán thuế được thực hiện theo nguyên tắc: chỉ kê khai theo số tổng hợp tương ứng với khoản thu nhập thuộc diện nộp thuế thu nhập cá nhân của năm 2009.

- Đối với những tờ khai thu nhập được miễn thuế trong 6 tháng đầu năm thì tại chỉ tiêu kỳ tính thuế phản ánh rõ kỳ tính thuế từ ngày 01/7/2009 đến ngày 31/12/2009.


2.3. Thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế: theo hướng dẫn tại Thông tư số 84/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính thì thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm 2009. Tuy nhiên để tạo điều kiện cho cơ quan thuế trong việc tiếp nhận hồ sơ và xử lý thông tin, cơ quan thuế có thể hướng dẫn và đề nghị các tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ quyết toán thuế sớm hơn.

2.4. Nơi nộp hồ sơ quyết toán thuế:

a. Đối với đơn vị trả thu nhập là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh: nộp hồ sơ khai quyết toán thuế tại cơ quan thuế trực tiếp quản lý tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh.

b. Đối với các trường hợp khác:
- Cơ quan Trung ương, cơ quan thuộc, trực thuộc Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan cấp tỉnh nộp hồ sơ khai thuế tại Cục Thuế.
- Cơ quan thuộc, trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cơ quan cấp huyện nộp hồ sơ khai thuế tại Chi cục Thuế.
- Cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, Văn phòng đại diện của các tổ chức nước ngoài,... nộp hồ sơ khai thuế tại Cục Thuế nơi cơ quan đóng trụ sở chính.

2.5 Trường hợp người lao động ký hợp đồng với đơn vị chi trả thu nhập nhận lương không có thuế TNCN (lương NET), tiền thuế TNCN được tính ngoài tiền lương thực nhận và do đơn vị chi trả thu nhập nộp thay, nay quyết toán thuế nếu đơn vị chi trả thu nhập không hoàn trả tiền thuế được miễn cho người lao động thì cũng không đuợc hạch toán khoản thuế được miễn này vào chi phí tiền lương, tiền công trong tổng chi phí.

Còn tiếp
 

bacbinhtieuthu

Thành viên mới
Tham gia ngày
22 Tháng ba 2009
Bài viết
44
Được thích
304
Điểm
0
Tuổi
35
Nơi ở
Gò Vấp
Tiếp theo: Dự thảo V/v: Quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2009


3. Kê khai quyết toán thuế đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh:

3.1. Các trường hợp phải kê khai quyết toán thuế:
- Cá nhân có số thuế phải nộp trong 6 tháng cuối năm 2009 lớn hơn số thuế đã khấu trừ hoặc tạm nộp;
- Cá nhân có yêu cầu được hoàn thuế hoặc bù trừ số thuế nộp thừa vào kỳ sau.​

3.2. Hồ sơ quyết toán thuế:

Cơ quan thuế khi hướng dẫn cá nhân khai quyết toán thuế cần lưu ý một số điểm sau:

- Kỳ tính thuế: trong các tờ khai và bảng kê cần ghi rõ kỳ tính thuế là từ ngày 01/7/2009 đến 31/12/2009.

- Đối với cá nhân kinh doanh: chỉ kê khai doanh thu, thu nhập, các khoản giảm trừ,... tương ứng với kỳ tính thuế từ ngày 01/7/2009 đến 31/12/2009.

- Đối với cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công: chỉ kê khai thu nhập chịu thuế, các khoản giảm trừ tương ứng với kỳ tính thuế từ ngày 01/7/2009 đến 31/12/2009. Việc xác định thu nhập từ tiền lương, tiền công được miễn thuế (để loại trừ không phải khai quyết toán) thực hiện theo Thông tư số 160/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính và lưu ý ở phần quyết toán của đơn vị chi trả thu nhập nêu trên.

Để đảm bảo quyền lợi của đối tượng nộp thuế, trường hợp trong năm 2009 cá nhân chưa đăng ký hoặc kê khai giảm trừ người phụ thuộc, khi quyết toán thuế cá nhân mới kê khai và nộp hồ sơ chứng minh người phụ thuộc thì vẫn được tính giảm trừ.

Hồ sơ quyết toán thuế đối với một số đối tượng cụ thể như sau:

a. Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công:

- Khai theo các chỉ tiêu tương ứng trong Tờ khai quyết toán thuế theo mẫu số 09/KK-TNCN, phụ lục theo mẫu số 09A/PL-TNCN, phụ lục theo mẫu số 09C/PL-TNCN (nếu có đăng ký giảm trừ gia cảnh) ban hành kèm theo Thông tư số 84/2008/TT-BTC.

- Các chứng từ chứng minh số thuế đã khấu trừ, đã tạm nộp trong năm, việc kê khai căn cứ các chứng từ khấu trừ thuế do đơn vị chi trả cấp.

- Trường hợp nhận thu nhập từ các tổ chức quốc tế, Đại sứ quán, Lãnh sự quán và nhận thu nhập từ nước ngoài phải có tài liệu chứng minh hoặc xác nhận về số tiền đã trả của đơn vị, tổ chức trả thu nhập ở nước ngoài và kèm theo thư xác nhận thu nhập năm theo mẫu số 20/TXN-TNCN.

- Nơi nộp hồ sơ quyết toán thuế là cơ quan thuế trực tiếp quản lý đơn vị trả thu nhập.

- Thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm 2009.


b. Đối với cá nhân kinh doanh đã thực hiện chế độ kế toán hoá đơn, chứng từ nộp thuế theo kê khai bắt buộc phải thực hiện quyết toán thuế :

- Hồ sơ khai quyết toán thuế bao gồm: Tờ khai quyết toán thuế theo mẫu số 09/KK-TNCN, phụ lục theo mẫu số 09B/PL-TNCN, mẫu số 09C/PL-TNCN (ban hành kèm theo Thông tư số 84/2008/TT-BTC) và các chứng từ chứng minh số thuế đã tạm nộp trong năm (nếu kê khai quyết toán để hoàn thuế).
- Nơi nộp hồ sơ quyết toán thuế là Chi cục Thuế trực tiếp quản lý.
- Thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm 2009.

c. Cá nhân vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công, vừa có thu nhập từ kinh doanh:

- Khai đầy đủ các chỉ tiêu trong Tờ khai quyết toán thuế theo mẫu số 09/KK-TNCN; các Phụ lục theo mẫu số 09A/PL-TNCN; 09B/PL-TNCN và 09C/PL-TNCN (nếu có đăng ký giảm trừ gia cảnh)
- Nơi nộp hồ sơ quyết toán thuế là Chi cục Thuế nơi cá nhân có hoạt động kinh doanh.
- Thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm 2009.

d. Trường hợp cá nhân hoặc nhóm cá nhân kinh doanh có nhiều địa điểm kinh doanh đóng ở nhiều địa bàn quận, huyện, tỉnh, thành phố khác nhau: thực hiện kê khai tạm nộp thuế TNCN hàng quý tại Chi cục Thuế nơi diễn ra hoạt động kinh doanh; thực hiện quyết toán thuế TNCN đối với toàn bộ thu nhập chịu thuế từ kinh doanh tại Chi cục Thuế tại một nơi có địa điểm kinh doanh mà cá nhân hoặc nhóm cá nhân đăng ký giảm trừ gia cảnh. Hồ sơ kê khai quyết toán thuế gồm:

- Đối với nhóm kinh doanh, cá nhân đứng tên đại diện cho nhóm kinh doanh lập hồ sơ khai quyết toán theo mẫu số 08B/KK-TNCN để xác định thu nhập chịu thuế chung của cả nhóm và thu nhập chịu thuế riêng của từng cá nhân trong nhóm kinh doanh.

- Mỗi cá nhân trong nhóm kinh doanh được nhận 01 bản chính của tờ khai quyết toán của nhóm và thực hiện khai quyết toán thuế của cá nhân. Hồ sơ khai quyết toán thuế đối với từng cá nhân trong nhóm kinh doanh gồm:

+ Tờ khai quyết toán thuế của nhóm cá nhân kinh doanh (theo mẫu số 08B/KK-TNCN).
+ Tờ khai thuế theo mẫu số 09/KK-TNCN, phụ lục theo mẫu số 09C/PL-TNCN).
+ Các chứng từ đã tạm nộp thuế thu nhập cá nhân trong năm.

- Nơi nộp hồ sơ khai quyết toán thuế là Chi cục Thuế nơi nhóm cá nhân kinh doanh thực hiện hoạt động kinh doanh.

đ. Đối với cá nhân có thu nhập nhập từ tiền lương, tiền công, hoặc thu nhập từ kinh doanh có khoản thu nhập được giảm thuế do làm việc tại Khu Kinh tế mà thuộc đối tượng phải quyết toán thuế TNCN, ngoài tờ khai quyết toán thuế còn phải nộp kèm theo Phụ lục giảm thuế thu nhập cá nhân dành cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho cá nhân làm việc tại Khu kinh tế hoặc theo mẫu Phụ lục giảm thuế thu nhập cá nhân dành cho cá nhân kê khai trực tiếp với cơ quan thuế đối với thu nhập do làm việc tại khu kinh tế (Mẫu số 02/KKQT-TNCN) ban hành kèm Thông tư 176/2009/TT-BTC ngày 9/9/2009 của Bộ Tài chính.

Cá nhân thuộc đối tượng được giảm thuế có thu nhập từ kinh doanh quyết toán trực tiếp với Chi cục Thuế nơi có khu kinh tế. Trường hợp cá nhân vừa có địa điểm kinh doanh tại khu kinh tế, vừa có địa điểm kinh doanh ngoài khu kinh tế thì thực hiện quyết toán thuế tại nơi có địa điểm kinh doanh mà cá nhân đăng ký giảm trừ gia cảnh. Cá nhân phải có thêm bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh làm căn cứ xác nhận cá nhân có sản xuất kinh doanh tại khu kinh tế và kèm theo Phụ lục giảm thuế thu nhập cá nhân dành cho cá nhân kinh doanh tại khu kinh tế (Mẫu số 03/KKQT-TNCN) ban hành kèm Thông tư 176/2009/TT-BTC ngày 9/9/2009 của Bộ Tài chính.

3.3. Các khoản giảm trừ được tính khi quyết toán thuế như sau:

Do 6 tháng đầu năm cá nhân có thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiêng công được miễn thuế TNCN nên chỉ phải khai quyết toán phần thu nhập và số thuế phải nộp của 6 tháng cuối năm 2009 và các khoản giảm trừ tương ứng với thu nhập phải nộp thuế của 6 tháng cuối năm 2009. Cơ quan thuế hướng dẫn cá nhân lưu ý:

- Đối với giảm trừ các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm bắt buộc: các khoản bảo hiểm đã đóng một lần cho cả năm thì kê khai giảm trừ bằng 50% tổng số tiền đã đóng; đối với khoản bảo hiểm đóng theo tháng thì kê khai giảm trừ theo số thực đóng của 6 tháng cuối năm 2009.

- Đối với giảm trừ gia cảnh: số tiền giảm trừ được tính theo thực tế giảm trừ gia cảnh của 6 tháng cuối năm 2009; cụ thể như sau:

+ Về giảm trừ cho bản thân người có thu nhập: Mức được giảm trừ là 24 triệu đồng (6 tháng x 4 triệu đồng/tháng).

+ Về giảm trừ cho người phụ thuộc: Mức giảm trừ được tính theo số người phụ thuộc, số tháng được tính giảm trừ và mức tiền được trừ cho một người một tháng (1,6 triệu đồng/người/tháng).

Đối tượng được tính là người phụ thuộc được giảm trừ gia cảnh theo hướng dẫn tại Thông tư số 84/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính, ngoài các đối tượng là bố, mẹ, con của người nộp thuế thì các đối tượng khác như anh, chị, em ruột, ông bà, cô dì, chú, bác ruột .... phải là người không nơi nương tựa mà người nộp thuế đang trực tiếp nuôi dưỡng. Các đối tượng này nếu còn người khác đang nuôi dưỡng thì không được tính giảm trừ gia cảnh. Ví dụ ông, bà của người nộp thuế nhưng vẫn còn cô, chú đang trong độ tuổi lao động; cháu ruột của người nộp thuế nhưng còn bố, mẹ; anh, em ruột còn bố mẹ đang trong độ tuổi lao động... thì không được tính giảm trừ gia cảnh.

Cá nhân khai giảm trừ gia cảnh phải có chứng từ chứng minh kèm theo (nếu trước đó chưa nộp cho cơ quan thuế).

- Đối với giảm trừ đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học: Mức giảm trừ tính theo số chi thực tế trong 6 tháng cuối năm 2009. Căn cứ kê khai giảm trừ là chứng từ đóng tiền hoặc xác nhận của đơn vị chi trả về số tiền đóng qua đơn vị chi trả hộ.

3.4. Về việc xác định số thuế phải nộp:

Theo quy định của Luật thuế TNCN thì việc xác định số thuế phải nộp của cá nhân có thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương tiền công được căn cứ vào thu nhập tính thuế và thuế suất (theo biểu luỹ tiến từng phần); biểu thuế luỹ tiến từng phần có thể tính theo thu nhập tính thuế bình quân tháng hoặc thu nhập tính thuế cả năm.

Do thực hiện miễn thuế TNCN 6 tháng đầu năm 2009 theo Nghị quyết của Quốc hội nên khi xác định số thuế phải nộp của 6 tháng cuối năm 2009, đề nghị cơ quan thuế thực hiện như sau:

- Lấy tổng thu nhập tính thuế của 6 tháng cuối năm chia :)) cho 6 để xác định thu nhập tính thuế bình quân tháng;

- Căn cứ thu nhập tính thuế bình quân tháng và mức thuế suất thuế TNCN tương ứng theo biểu luỹ tiến từng phần để xác định số thuế TNCN phải nộp của tháng.
- Lấy số thuế TNCN phải nộp của tháng nhân (x) với 6 để xác định được số thuế phải nộp của cả 6 tháng cuối năm.

- Đối với cá nhân vừa có thu nhập thuộc diện được giảm 50% số thuế phải nộp do làm việc tại khu kinh tế, vừa có thu nhập phải nộp thuế thì việc xác định số thuế TNCN được giảm do làm việc trong khu kinh tế được xác định theo công thức:

Số thuế TNCN được giảm 50% = 50% x Tổng số thuế phải nộp (chưa được giảm thuế) x Thu nhập phát sinh trong khu kinh tế được giảm thuế
Tổng thu nhập của 6 tháng cuối năm

Ví dụ: Ông X là người độc thân không có người phụ thuộc phải nuôi dưỡng, hiện đang làm công nhân tại Khu kinh tế Lao Bảo với mức thu nhập 7 triệu đồng/tháng, ngoài ra hàng tháng ông có thu nhập từ tiền cho thuê nhà tại Huế mới mức 10 triệu đồng/tháng. Năm 2009, Ông X quyết toán thuế như sau:
- Tổng thu nhập: 72 triệu
Trong đó:
+ Thu nhập trong khu kinh tế: 7 triệu x 6 tháng = 42 triệu
+ Thu nhập từ cho thuê nhà: 05 triệu x 6 tháng = 30 triệu

- Thu nhập tính thuế sau khi giảm trừ gia cảnh:
72 triệu – 24 triệu = 48 triệu đồng
- Thu nhập bình quân 1 tháng: 48 triệu / 6 tháng = 8 triệu đồng

- Thuế TNCN phải nộp của 1 tháng:
(6 triệu – 5 triệu) x 10% + (5 triệu x 5%) = 350.000 đồng
- Thuế TNCN phải nộp của 6 tháng cuối năm 2009:
350.000 đồng/tháng x 6 tháng = 2.100.000 đồng

- Phần thuế TNCN phải nộp tương ứng với thu nhập phát sinh trong khu kinh tế Lao Bảo là:
2,1 triệu đ x (42 triệu / 72 triệu) = 1.225.000 đồng

- Thuế TNCN được giảm 50% là:
1.225.000 đồng x 50% = 612.500 đồng

- Thuế TNCN còn phải nộp là:
2.100.000 đồng - 612.000 đồng = 1.487.500 đồng

3.5. Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh có thể trực tiếp khai quyết toán thuế hoặc ký hợp đồng uỷ quyền cho các tổ chức, đơn vị dịch vụ khai và quyết toán thuế thay. Trường hợp các đơn vị được uỷ quyền khai và quyết toán thuế thay cho cá nhân phải gửi kèm tờ khai quyết toán giấy uy quyền hoặc hợp đồng ký với cá nhân, nếu thực hiện quyết toán không đúng thì tổ chức, đơn vị dịch vụ bị phạt vi phạm đồng thời cá nhân uỷ quyền phải nộp số thuế còn thiếu và số tiền phạt (nếu có) vào ngân sách nhà nước.

3.6. Để đơn giản thủ tục quyết toán thuế TNCN đối với người có thu nhập từ tiền lương, tiền công tại một nơi duy nhất mà thuộc đối tượng phải quyết toán thuế TNCN theo Thông tư số 84/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính, cá nhân có thể uỷ quyền cho đơn vị chi trả thu nhập quyết toán hộ nếu đơn vị chấp thuận và tự nguyện quyết toán thay cho cá nhân.

Đơn vị chi trả thu nhập căn cứ vào giấy uỷ quyền của cá nhân có thu nhập, căn cứ vào số thu nhập chi trả và bản đăng ký giảm trừ gia cảnh, các chứng từ nộp bảo hiểm, các chứng từ đóng góp từ thiện ... của người có thu nhập để thực hiện tính giảm trừ cho người nộp thuế và xác định số thuế phải nộp cho cá nhân có thu nhập. Đơn vị chi trả thu nhập thực hiện khấu trừ ngay số thuế còn thiếu để nộp vào ngân sách khi thực hiện quyết toán.

Trên tờ khai theo Bảng kê số 05A/TNCN phản ánh luôn số thuế đã khấu trừ theo quyết toán của cá nhân. Đơn vị chi trả thu nhập thực hiện quản lý và xuất trình cho cơ quan thuế các căn cứ khi quyết toán thuế khi có yêu cầu.

Đối với các trường hợp cá nhân quyết toán qua cơ quan chi trả thu nhập nêu trên, kết thúc năm đơn vị chi trả không phải cấp chứng từ khấu trừ thuế TNCN cho từng cá nhân; trường hợp cá nhân nào có nhu cầu quyết toán riêng trực tiếp với cơ quan thuế thì cơ quan chi trả thu nhập cấp chứng từ khấu trừ thuế cho cá nhân đó.

Còn tiếp
 

bacbinhtieuthu

Thành viên mới
Tham gia ngày
22 Tháng ba 2009
Bài viết
44
Được thích
304
Điểm
0
Tuổi
35
Nơi ở
Gò Vấp
Tiếp theo: Dự thảo V/v: Quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2009

II/ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN PHỤC VỤ QUYẾT TOÁN THUẾ TNCN NĂM 2009:

Nhằm hỗ trợ các đơn vị chi trả thu nhập, cá nhân nộp thuế và Cơ quan thuế trong việc quyết toán thuế TNCN năm 2009; Tổng cục Thuế đã xây dựng nhiều hướng dẫn và phần mềm ứng dụng để hỗ trợ; cụ thể như sau:

1. Đối với các đơn vị chi trả thu nhập và cá nhân nộp thuế:

- Hướng dẫn thủ tục, hồ sơ và cách lập các tờ khai quyết toán thuế TNCN;

- Phần mềm Hỗ trợ kê khai (HTKK) để hỗ trợ kê khai quyết toán TNCN, in tờ khai mã vạch và kết xuất tệp dữ liệu để gửi cơ quan thuế.

- Phần mềm Kê khai thuế qua mạng (iHTKK) để hỗ trợ các đơn vị chi trả kê khai và truyền dữ liệu khai quyết toán thuế TNCN cho cơ quan thuế qua internet. Phần mềm này đang được Tổng cục triển khai thí điểm cho một số đơn vị chi trả của Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bà Rịa – Vũng Tàu và sẽ triển khai rộng trong thời gian tới.

- Hỗ trợ tệp định dạng chuẩn để các đơn vị chi trả có thể chỉnh sửa các phần mềm ứng dụng khác hiện đang sử dụng (như phần mềm Quản lý nhân sự, Tính lương, Kế toán…) kết xuất ra tệp dữ liệu định dạng chuẩn gửi cơ quan thuế.

Các hướng dẫn và phần mềm hỗ trợ được Tổng cục Thuế cung cấp miễn phí tại địa chỉ http://www.tncnonline.com.vn.

2. Đối với Cơ quan thuế:

- Tiếp tục sử dụng Cổng thông tin đăng ký thuế TNCN (tại địa chỉ http://www.tncnonline.com.vn) để thu thập các tệp dữ liệu tờ khai quyết toán của đơn vị chi trả và cá nhân song song với việc nhận tờ khai giấy. Cổng thông tin này sẽ hỗ trợ cơ quan thuế nhận thông tin quyết toán thuế của các đơn vị chi trả và cá nhân nộp thuế gửi tờ khai qua mạng internet nhằm rút ngắn thời gian, công sức nhập liệu của cơ quan thuế, đồng thời giảm thiểu sai sót.

- Ứng dụng phần mềm nhận/kiểm tra tệp dữ liệu tại cơ quan thuế: Các bộ phận tiếp nhận hồ sơ quyết toán thuế tại cơ quan thuế sử dụng phần mềm này để kiểm tra dữ liệu giữa hồ sơ giấy và tệp dữ liệu để chấp nhận hồ sơ quyết toán của các đơn vị chi trả thu nhập và cá nhân nộp thuế.

- Ứng dụng truy xuất danh sách cá nhân phải quyết toán thuế để cơ quan thuế chủ động kiểm tra, đôn đốc các cá nhân phải quyết toán thuế nhưng chưa nộp hồ sơ quyết toán, in các thông báo đôn đốc, xử phạt vi phạm chậm nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN...

III/ TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN THUẾ TRONG VIỆC TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUYẾT TOÁN THUẾ TNCN:

1. Tổ chức tuyên truyền sâu rộng về việc quyết toán thuế TNCN năm 2009:

Do đây là năm đầu tiên các đơn vị chi trả thu nhập và cá nhân nộp thuế thực hiện quyết toán thuế TNCN theo quy định của Luật thuế TNCN, đồng thời thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về miễn thuế TNCN nên việc quyết toán sẽ phát sinh nhiều vướng mắc. Vì vậy, cơ quan thuế cần tập trung tuyên truyền mạnh về công tác quyết toán thuế TNCN.

Tổng cục Thuế đã chuẩn bị nội dung và các tài liệu tuyên truyền về thuế quyết toán thuế TNCN; tuỳ theo tình hình cụ thể của địa phương, đề nghị cơ quan thuế phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tấn, báo chí để tổ chức tốt công tác tuyên truyền tại địa phương theo các nội dung đã được tổng cục duyệt (tài liệu tuyên truyền quyết toán thuế TNCN và Tài liệu hướng dẫn đơn vị và cá nhân thực hiện quyết toán thuế TNCN gửi kèm). Thời gian tuyên truyền cần tập trung vào các tháng 01, 02 và 03 năm 2010.

2. Thông báo nhắc nhở nghĩa vụ quyết toán thuế đối với đối tượng nộp thuế:

a. Đối với đơn vị chi trả thu nhập:

- Để các đơn vị chi trả thu nhập biết được nghĩa vụ phải quyết toán thuế TNCN; trong tháng 01/2010, cơ quan thuế cần thông báo cho tất các đơn vị chi trả thu nhập biết nghĩa vụ quyết toán thuế TNCN (theo mẫu thông báo đính kèm).

- Thông báo và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ quyết toán thuế cho đơn vị chi trả thu nhập biết.

Tổng cục Thuế đã xây dựng trang web riêng để tuyên truyền và hướng dẫn việc quyết toán thuế TNCN hướng dẫn cách lập hồ sơ quyết toán thuế và gửi hồ sơ quyết toán thuế. Đồng thời cũng tổ chức tiếp nhận hồ sơ quyết toán thuế qua internet. Cơ quan thuế thông báo cho các tổ chức, cá nhân biết và khuyến khích các tổ chức, cá nhân gửi hồ sơ quyết toán thuế vào địa chỉ Cổng thông tin điện tử tiếp nhận tệp kê khai quyết toán thuế: www.tncnonline.com.vn

b. Đối với cá nhân nộp thuế:

- Căn cứ danh sách cá nhân thuộc diện phải quyết toán thuế TNCN được kết xuất từ hệ thống tin học của ngành thuế; cơ quan thuế có trách nhiệm thông báo để những cá nhân phải khai quyết toán thuế biết và đôn đốc họ thực hiện quyết toán quyết toán thuế theo quy định.

- Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ quyết toán thuế để tạo điều kiện cho cá nhân thực hiện quyết toán thuế được thuận lợi.

- Hướng dẫn cá nhân quyết toán thuế lập hồ sơ quyết toán thuế.

Để giúp các đơn vị chi trả thu nhập và cá nhân nộp thuế kê khai và nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN đúng quy định; cơ quan thuế cần phân công và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng phòng, đội chức năng nhiệm vụ đôn đốc, hướng dẫn, giải đáp những vướng mắc liên quan đến quyết toán thuế.

3. Tổ chức tiếp nhận hồ sơ khai quyết toán thuế TNCN:

Tổng cục Thuế gửi kèm công văn này tài liệu hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện quyết toán thuế TNCN năm 2009 và tài liệu hướng dẫn cơ quan thuế thực hiện thu thập thông tin quyết toán thuế TNCN năm 2009.

Đề nghị Cục Thuế nghiên cứu và tổ chức thực hiện theo hướng dẫn tại các tài liệu này.

4. Đôn đốc và xử lý vi phạm:

Do là năm đầu tiên triển khai quyết toán thuế TNCN còn nhiều điểm mới; vì vậy, ngay sau khi hết hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế, cơ quan thuế cần xác định ngay các trường hợp chậm nộp hồ sơ quyết toán thuế để thông báo đôn đốc và gia hạn nộp hồ sơ quyết toán. Sau khi đã có thông báo đôn đốc việc nộp hồ sơ quyết toán thuế và hết thời gian gia hạn, nếu đơn vị chi trả, cá nhân được đôn đốc vẫn không thực hiện thông báo của cơ quan thuế thì áp dụng các biện pháp xử phạt theo quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Tổng cục Thuế đề nghị các Cục thuế căn cứ vào hướng dẫn tại công văn này để triển khai tốt công tác quyết toán thuế TNCN trên địa bàn. Trong quá trình triển khai nếu có vướng mắc, đề nghị các Cục thuế phản ánh kịp thời về Tổng cục Thuế để có hướng dẫn xử lý kịp thời./.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Duy Khương​

Nơi nhận:
- Như trên
- Vụ Pháp chế
- Đại diện VPTCT tại TP HCM;
- Lưu VT, TNCN (2b)
 

File đính kèm

  • Du thao CV huong dan QT thue 2009.rar
    30.4 KB · Đọc: 75
Quảng cáo
Top Bottom