Trang 1/6 1 2 3 4 5 ... cuốicuối
Hiển thị kết quả tìm kiếm từ 1 đến 10 trên tổng số: 51
  1. #1

    Cách hạch toán kế toán xây dựng cơ bản

    Các bác ơi cty em đang trong quá trình XDCB, những hợp đồng về nhân công, xây dựng nhà xưởng mà mình cho ứng trước thì hạch toán vào tài khoản nào để theo dõi. rất mong các bác giúp em
    cảm ơn các bác

  2. Có 10 thành viên cảm ơn minhhue về bài viết này:


  3. #2
    Tham gia ngày
    12 2006
    Bài gởi
    2
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 5 lần trong 1 bài
    Trích Nguyên văn bởi *******
    Các bác ơi cty em đang trong quá trình XDCB, những hợp đồng về nhân công, xây dựng nhà xưởng mà mình cho ứng trước thì hạch toán vào tài khoản nào để theo dõi. rất mong các bác giúp em
    cảm ơn các bác
    Nếu mình chủ đầu tư thì hạch tóan vào TK 241 xây dựng cơ bản.
    Nếu là đvị thi công thì hạch toan TK 142 hay TK 242 tùy theo thời gian thi công

  4. Có 5 thành viên cảm ơn ntv về bài viết này:


  5. #3
    hach toan tai cong ty hoat dong ve xay dung thi dung nhung tai khoan nao a mong cac bac chi giup em nhanh voi a em cam on

  6. Có 3 thành viên cảm ơn latdat2711 về bài viết này:


  7. #4
    Tham gia ngày
    12 2007
    Nơi Cư Ngụ
    Q. Bình Thạnh - TPHCM
    Bài gởi
    1,869
    Cảm ơn
    2,882
    Được cảm ơn 4,975 lần trong 1,496 bài viết
    Trích Nguyên văn bởi latdat2711 View Post
    hach toan tai cong ty hoat dong ve xay dung thi dung nhung tai khoan nao a mong cac bac chi giup em nhanh voi a em cam on
    Nếu mình là Nhà thầu :
    621+622++623+627->154->632 theo từng công trình
    111,112,331,152->621 (chi phí NVL trực tiếp dùng XD)
    111,112->334->622 (lương công nhân XD)
    111,112,331->627 (chi phí quản lý trong XD như điện , nước, bảo hiểm, thuê VP...)
    111,112,331,214->623 (Chi phí máy thi công)
    Xuất hóa đơn cho chủ đầu tư khi nhận được tạm ứng : N131/C3387,333 - N111,112/C131
    Khi hoàn thành công trình : N3387/C511 - N632/C154
    thay đổi nội dung bởi: hoangdanh282vn, 10-10-09 lúc 07:49 AM


  8. #5
    toi muon lap cong thuc tinh gia xuat kho theo phuong phap FIFO, thi phai lam sao.
    ai biet giup toi voi. cam on nhieu

  9. Có 3 thành viên cảm ơn thientruongco về bài viết này:


  10. #6
    Cty mình cũng làm trong lĩnh vực xây dựng và bán VLXD.
    Rất muốn làm quen với các bạn làm trong lĩnh vực này nhé!
    Mình làm việc ở TP.HCM Nickname: línhnhat66
    Mail : línhnhat66@yahoo.com

  11. Thành viên sau cảm ơn linhnhat166 về bài viết này:


  12. #7
    Xin anh chị vui lòng giup em !
    Hiện tại công ty em đang xây dựng công trình nhà ở năm 2008 đã hoàn tất, hợp đồng được ký với danh nghĩa công ty khác, nhưng công ty ấy không xuất hóa đơn trong năm 2008, bây giờ bên chủ nhà làm thu tục hoàn công yêu cầu bên em xuất một hóa đơn theo hợp đồng để hoàn công, bây giờ tháng 04/2009 rôi, e lam sao đây?, có làm lại hợp đồng mới dược ko? ( hợp đồng kia đã dăng ký rồi)

  13. Có 3 thành viên cảm ơn do kieu thom về bài viết này:


  14. #8
    Tham gia ngày
    12 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Phnom Penh
    Bài gởi
    3,558
    Cảm ơn
    8,095
    Được cảm ơn 18,174 lần trong 3,840 bài viết

    Quản lý, sử dụng và hạch toán TSCĐ trong DN xây dựng.

    Quản lý, sử dụng và hạch toán TSCĐ trong DN xây dựng.



    Những kết quả đạt được

    Có thể nói, các DNXD đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo chế độ kế toán về TSCĐ. Chính điều này đã tác động tích cực tới hiệu năng quản lý kinh doanh, quản lý tài sản và đóng góp quan trọng vào việc nâng cao vị thế, sức cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của DNXD. Cụ thể là:

    Các DNXD đã vận dụng đầy đủ hệ thống chứng từ cho quản lý và hạch toán TSCĐ, từ việc đầu tư, mua sắm, điều chuyển, cấp vốn, thuê, cho thuê, thanh lý, nhượng bán, khấu hao đến sửa chữa TSCĐ. Việc sử dụng tương đối đầy đủ và linh hoạt hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho phần hành kế toán TSCĐ, các tài khoản được sử dụng, bao gồm cả tài khoản tổng hợp và tài khoản chi tiết, từ kết cấu, cách ghi chép đến mối quan hệ giữa các tài khoản đã góp phần xử lý và cung cấp thông tin về tình hình hiện có và biến động của toàn bộ TSCĐ cũng như của từng loại TSCĐ trên các chỉ tiêu nguyên giá, giá trị hao mồn và giá trị còn lại (GTCL), từ đó làm cơ sở cho việc ra các quyết định của quản lý liên quan đến đầu tư, điều chuyển, thanh lý, nhượng bán và sửa chữa TSCĐ.

    Các DN đã áp dụng hình thức kế toán tương đối hợp lý với quy mô hoạt động, đặc điểm tổ chức quản lý, nhu cầu thông tin và khả năng, điều kiện cơ sở vật chất của DNXD. Hình thức kế toán Nhật ký chung hoặc Chứng từ - Ghi sổ đã tạo điều kiện thuận lợi cho DNXD trong việc ứng dụng công nghệ thôn tin vào công tác kế toán và vạn dụng linh hoạt các mẫu sổ kế toán trong điều kiện kế toán máy. Việc mở và ghi đầy đủ số liệu về TSCĐ trên Thẻ TSCĐ, Sổ TSCĐ và Sổ theo dõi TSCĐ tại đơn vị sử dụng đã góp phần cung cấp thông tin về quá trình quản lý và sử dụng của từng TSCĐ, từng loại TSCĐ, bao gồm nguyên giá, tình hình trích khấu hao, số khấu hao luỹ kế tính đến thời điểm giảm TSCĐ, lý do giảm TSCĐ, đồng thời tăng cường thực hiện trách nhiệm vật chất đối với các cá nhân, bộ phận liên quan trong việc quản lý và sử dụng TSCĐ của DNXD.

    Việc áp dụng phương pháp khấu hao đường thẳng theo nguyên tắc tròn tháng trong DNXD đơn giản, dễ làm, tạo điều kiện thuận lợi cho quaảnlý trong việc theo dõi và kiểm soát các chi phí SXKD khác vì chi phí khấu hao đã làm một con số ổn định. Việc phẩn bổ chi phí khấu hao TSCĐ cho các đối tượng chịu chi phí trong trường hợp TSCĐ được sử dụng cho nhiều công trình theo số giờ hoặc số ca máy hoạt động là phù hợp, sát thực với mức độ sử dụng của từng công trình trên cơ sở số giờ máy, số ca máy thống kê.

    Việc hạch toán các trường hợp tăng, giảm, thuê, cho thuê, khấu hao và sửa chữa TSCĐ trong DNXD về cơ bản được thực hiện như quy định của Chế độ kế toán. Đặc biệt, một số DNXD đã vận dụng hết sức sáng tạo tài khoản và phương pháp hạch toán trường hợp cho thuê hoạt động TSCĐ, đó là mở chi tiết các TK 623, 154, 632, 511 để theo dõi các chi phí và doanh thu phát sinh trong quá trình cho thuê.

    Hệ thống BCTC nói chung, báo cáo về TSCĐ nói riêng trong các DNXD tương đối đầy đủ, kịp thời và chính xác. Các báo cáo tăng TSCĐ, báo cáo kết quả kiểm kê TSCĐ là căn cứ quan trọng trong việc kiểm tra, đối chiếu số liệu với sổ kế toán và BCTC. Việc ghi chú đầy đủ, chính xác thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh, trong đó có các thông tin cụ thể về tăng, giảm TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính; GTCL của TSCĐHH dùng để thế chấp, cầm cố cho các khoản vay; Nguyên giá TSCĐ đã khấu hao hết nhưng vẫn còn sử dụng; Chi phí xây dựng cơ bản (XDCB) dở dang và Chi phí khấu hao TSCĐ đã cung cấp thông tin toàn diện và chi tiết cho quản lý về tình hình hiện có và biến động của từng loại TSCĐ, giải thích rõ ràng cho các khoản mục được trình bày trong BCTC của DNXD.

    Việc quản lý TSCĐ trong các DNXD được thực hiện tương đối bài bản và chặt chẽ. Quy trình thủ tục của các trường hợp mua sắm, XDCB, thuê, cho thuê, thanh lý, nhượng bán, sửa chữa TSCĐ trong DNXD là hợp lý, các bước công việc diễn ra theo một trình tự xác định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, kiểm soát của quản lý. Hiệu quả sử dụng TSCĐ trong DNXD tương đối khả quan, có chiều hướng tăng dần qua các năm. Sức sản xuất và sức sinh lời của TSCĐ tăng, trong khi suất hao phí của TSCĐ giảm. Nguồn vốn đầu tư TSCĐ trong các DNXD chủ yếu là nguồn tài trợ vay, nợ bên ngoài. Tuy nhiên, suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (CSH) trong các DNXD là hợp lý trong tương quan với mặt bằng tỷ lệ lãi suất cho vay của thị trường.

    Những nỗ lực của DNXD trong việc hạch toán và quản lý TSCĐ đã đóng góp nhất định vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và hiệu quả kinh doanh, vị thế của các DNXD nói riêng.

    Những hạn chế cần khắc phục

    Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong quản lý và hạch toán TSCĐ, các DNXD vẫn còn một số hạn chế nhất định cần khắc phục và hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu năng quản lý và hiệu quả kinh doanh.

    Thứ nhất, các DNXD chưa thực hiện đánh số hiệu cho TSCĐ, gây khó khăn nhất định cho việc theo dõi, kiểm kê và quản lý TSCĐ trong phạm vi toàn DNXD cũng như theo từng bộ phận, đơn vị sử dụng.

    Thứ hai, các hình thức đầu tư TSCĐ trong DNXD còn đơn giản, phần lớn chỉ bao gồm tăng do mua, thuê và do XDCB, chưa khai thác các hình thức khác như mua trả góp, tự sản xuất hay trao đổi TSCĐ. Trong điều kiện khả năng tài chính còn hạn hẹp, nhu cầu về số lượng, chủng loại và chất lượng của TSCĐ trong DNXD ngày càng cao, cần đa dạng hoá các hình thức đầu tư TSCĐ sao cho phù hợp với yêu cầu sử dụng, khả năng tài chính và tính hiệu quả kinh tế.

    Thứ ba, việc sử dụng TK kế toán trong DNXD còn nhiều bất cập. Nhiều DN không mở TK chi tiết trong các TK tổng hợp 211, 213, 214 để theo dõi số hiện có và tình hình biến động nguyên giá, giá trị hao mòn của từng loại TSCĐ, hạn chế việc cung cấp thông tin về từng loại TSCĐ cho quản lý, khi cần thông tin kế toán phải kiểm tra lại chứng từ và Sổ TSCĐ, đồng thời không có căn cứ để đối chiếu số liệu với thuyết minh BCTC. Phần lớn DN không mở TK 001 để phản ánh tình hình nhận và trả giá trị TSCĐ thuê ngoài theo phương thức thuê hoạt động với bên cho thuê mà chỉ theo dõi trên hợp đồng thuê, đồng nghĩa với việc chưa phản ánh đầy đủ các mối quan hệ kinh tế- pháp lý phát sinh trong quá trình hoạt động của DNXD. Một DNXD không mở TK 623 (trong trường hợp áp dụng Chế độ Kế toán DN) hoặc không mở chi tiết TK 154 (trong trường hợp áp dụng Chế độ kế toán DN nhỏ và vừa) để tập hợp và kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công ảnh hưởng đến tính chính xác của cơ cấu chi phí sản xuất trong giá thành công trình xây lắp.

    Thứ tư, các DNXD mới quan tâm đến việc lập Báo cáo tăng TSCĐ mà không lập Báo cáo giảm TSCĐ. Việc không lập báo cáo này một mắt không cung cấp được thông tin tổng hợp cho nhà quản lý về tình hình biến động giảm TSCĐ, một mặt gây khó khăn cho việc lập Báo cáo TSCĐ và ghi chú bổ sung cho tăng, giảm khoản mục TSCĐ trong Thuyết minh BCTC của DNXD.

    Thứ năm, việc hạch toán khấu hao TSCĐ trong thời gian cho thuê hoạt động vào chi phí tài chính, hạch toán tiền thu từ cho thuê vào thu nhập khác của một số DNXD là không hợp lý vì hoạt động cho thuê TSCĐ là một hoạt động SXKD thường xuyên của DNXD. Ngay cả khi khấu hao TSCĐ cho thuê và chi phí phát sinh trong quá trình cho thuê được hạch toán vào chi phí sản xuất chung và được phân bổ cho các công trình cũng là điều bất hợp lý vì TSCĐ cho thuê không phát huy tác dụng trong việc thi công các công trình. Việc làm này hoặc phản ánh không chính xác nội dung, quy mô chi phí, doanh thu hoặc làm sai lệch thông tin về giá thành công trình xây dựng của DNXD.

    Thứ sáu, các DNXD áp dụng duy nhất phương pháp tính khấu hao truyền thống là phương pháp đường thẳng và tính toán theo nguyên tắc tròn tháng cho tất cả các loại TSCĐ. Việc làm này tuy tạo ra sự đơn giản cho quản lý và hạch toán nhưng không đánh giá sát hợp mức độ hao mòn thực tế của TSCĐ, đặc biệt là những TSCĐ có mức độ hao mòn vô hình tương đối lớn. Mặt khác, khi TSCĐ tăng hoặc giảm vào những ngày đầu tháng mà tháng sau mới được tính hoặc thôi tính khấu hao thì sai lệch trong kết quả tính khấu hao TSCĐ có thể là một con số không nhỏ.

    Thứ bảy, các DNXD hiện nay đang sử dụng một lượng lớn TSCĐ đã khấu hao hết giá trị. Điều này có thể là cần thiết khi năng lực sản xuất của TSCĐ vẫn đảm bảo, DNXD còn gặp khó khăn về nguồn lực tài chính trong việc đầu tư, đổi mới, nâng cấp TSCĐ. Tuy nhiên, nếu duy trì sử dụng một lượng lớn TSCĐ đã khấu hao hết giá trị có thể ảnh hưởng đến năng lực, trình độ thi công, và khả năng đấu thầu của DNXD.

    Còn tiếp :


  15. Có 7 thành viên cảm ơn Kế Toán Già Gân về bài viết này:


  16. #9
    Tham gia ngày
    12 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Phnom Penh
    Bài gởi
    3,558
    Cảm ơn
    8,095
    Được cảm ơn 18,174 lần trong 3,840 bài viết

    Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh xây lắp

    Tiếp theo bài : Quản lý, sử dụng và hạch toán TSCĐ trong DN xây dựng.

    Thứ tám, bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ trong các DNXD hiện nay được tính trực tiếp trên cơ sở từng TSCĐ gắn với từng công trình hoặc bộ phận quản lý cụ thể mà không thể hiện số khấu hao trích kỳ trước, số khấu hao tăng và giảm trong kỳ, không cho phép đánh giá sự biến động chi phí khấu hao TSCĐ do ảnh hưởng của các trường hợp tăng, giảm TSCĐ ngay trên bảng tính khấu hao kỳ này. Mặt khác, khấu hao TSCĐ trong những ngày không sử dụng được hạch toán vào chi phí quản lý DN là không hợp lý bởi lẽ những TSCĐ này được sử dụng cho mục đích thi công công trình xây lắp chứ không phục vụ quản lý DN. Việc ghi tăng chi phí quản lý DN trong trường hợp này là không đúng với mục đích sử dụng TSCĐ và phản ánh sai bản chất, quy mô của chi phí quản lý DN.

    Thứ chín, hầu hết các DNXD chưa xây dựng quy chế tài chính nội bộ và quy chế quản lý, sử dụng TSCĐ áp dụng trong DNXD. Quy chế tài chính nội bộ quy định nội dung, trình tự ghi nhận doanh thu, chi phí, thẩm quyền phê duyệt đầu tư, điều chuyển, thanh lý, nhượng bán tài sản nói chung, TSCĐ nói riêng, nhận vốn góp, phân chia lợi nhuận, xử lý lỗ, mục đích sử dụng các quỹ, chế độ kế toán, kiểm toán…Quy trình quản lý, sử dụng TSCĐ đề cập cụ thể đến các vấn đề tổ chức, kinh tế, kỹ thuật trong việc đầu tư, điều chuyển, sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa, thanh lý, nhượng bán TSCĐ. Việc ban hành và áp dụng quy chế tài chính nội bộ, quy chế quản lý, sử dụng TSCĐ sẽ tạo ra sự thống nhất, minh bạch và công khai trong quá trình thực hiện, làm tăng tính hiệu năng của công tác quản lý, và tính hiệu quả trong quản lý, sử dụng TSCĐ.

    Thứ mười, các DNXD hiện nay chưa tổ chức kế toán quản trị TSCĐ và chưa tiến hành phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng TSCĐ nói riêng. Tất cả các phần hành kế toán tại phòng kế toán của DNXD, trong đó có phần hành TSCĐ, đều thực hiện chức năng kế toán tài chính. Việc theo dõi, quản lý về số lượng, tình trạng kỹ thuật và điều động TSCĐ thuộc về phòng cơ giới hoặc phòng kỹ thuật. Việc phân tích hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng TSCĐ không được tiến hành thường xuyên, không tổ chức bộ máy phân tích và xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích và xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích, đánh giá. Các DNXD chỉ tiến hành tính toán một số chỉ tiêu phục vụ cho việc đánh giá khái quát tình hình tài chính và kết quả kinh doanh khi lập Thuyết minh BCTC vào cuối mỗi năm.

    Những hạn chế trên đây xuất phát từ những nguyên nhân khách quan là hoạt động SXKD của DNXD diễn ra ngoài trời, chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện tự nhiên, TSCĐ và các điều kiện sản xuất thường xuyên phải di chuyển, nhu cầu về số lượng, chủng loại TSCĐ hiện đại ngày một tăng trong khi khối lựơng công việc không đều giữa các thời điểm trong năm. Bên cạnh đó, cơ chế, chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước nói chung, chính sách tài chính, kế toán nói riêng thường xuyên thay đổi, nhiều điểm không thống nhất đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc tổ chức thực hiện của các DN, DNXD. Bên cạnh đó, có nguyên nhân chủ quan là hạn chế về số lượng, trình độ của đội ngũ cán bộ kế toán trong các DNXD so với khối lượng công việc và yêu cầu chất lượng thông tin ngày càng cao. Mặt khác, công tác tài chính, kế toán chưa được các DNXD quan tâm đúng mức.

    Tất cả những hạn chế, tồn tại này chỉ được khắc phục triệt để thì công tác quản lý kinh doanh nói chung, quản lý và hoặc toán TSCĐ nói riêng của DNXD mới thực sự có hiệu quả, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của DN trên thương trường.

    THS. Trần Văn Thuận-ĐH KTQD (Tạp chí Kế toán)

    --------
    Nguồn : Tạp chí kế toán

    Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh xây lắp


    1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất.

    Đối tượng kế toán chi phí sản xuất xây lắp là phạm vi giới hạn chi phí sản xuất xây lắp cần được tập hợp nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra giám sát chi phí và yêu cầu tính giá thành.

    Để xác định đúng đắn đối tượng kế toán chi phí sản xuất xây lắp trong các doanh nghiệp, trước hết phải căn cứ vào các yếu tố tính chất sản xuất và qui trình công nghệ sản xuất giản, đặc điểm tổ chức sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý, đơn vị tính giá thành trong doanh nghiệp.

    Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là các loại chi phí được tập hợp trong một thời gian nhất định nhằm phục vụ cho việc kiểm tra phân tích chi phí và giá thành sản phẩm. Giới hạn tập hợp chi phí sản xuất có thể là nơi gây ra chi phí và đối tượng chịu chi phí.

    Trong các doanh nghiệp xây lắp, với tính chất phức tạp của công nghệ và sản phẩm sản xuất mang tính đơn chiếc, có cấu tạo vật chất riêng, mỗi công trình, hạng mục công trình có dự toán thiết kế thi công riêng nên đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là công trình, hạng mục công trình, hoặc có thể là đơn đặt hàng, bộ phận thi công hay từng giai đoạn công việc. Tuy nhiên trên thực tế các đơn vị xây lắp thường hạch toán chi phí theo công trình, hạng mục công trình.

    Hạch toán chi phí sản xuất xây lắp theo đúng đối tượng đã được qui định hợp lý có tác dụng phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm được kịp thời.

    2. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất.

    Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phương pháp sử dụng để tập hợp và phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giới hạn của mỗi đối tượng kế toán chi phí. Trong các doanh nghiệp xây lắp chủ yếu dùng các phương pháp tập hợp chi phí sau:

    - Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo công trình, hạng mục công trình: chi phí sản xuất liên quan đến công trình, hạng mục công trình nào thì tập hợp cho công trình, hạng mục công trình đó.

    - Phương pháp hạch toán chi phí theo đơn đặt hàng: các chi phí sản xuất phát sinh liên quan đến đơn đặt hàng nào sẽ được tập hợp và phân bổ cho đơn đặt hàng đó. Khi đơn đặt hàng hoàn thành, tổng số chi phí phát sinh theo đơn đặt hàng kể từ khi khởi công đến khi hoàn thành là giá thành thực tế của đơn đặt hàng đó.

    - Phương pháp hạch toán chi phí theo đơn vị hoặc khu vực thi công: phương pháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp xây lắp thực hiện khoán. Đối tượng hạch toán chi phí là các bộ phận, đơn vị thi công như tổ đội sản xuất hay các khu vực thi công. Trong từng đơn vị thi công lại được tập hợp theo từng đối tượng tập hợp chi phí như hạng mục công trình.

    Trong các doanh nghiệp xây lắp, mỗi đối tượng có thể áp dụng một hoặc một số phương pháp hạch toán trên. Nhưng trên thực tế có một số yếu tố chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng, do đó phải tiến hành phân bổ các khoản chi phí này một cách chính xác và hợp lý cho từng đối tượng.

    Vũ Thị Dịu

  17. Có 14 thành viên cảm ơn Kế Toán Già Gân về bài viết này:


  18. #10
    Tham gia ngày
    12 2006
    Nơi Cư Ngụ
    Phnom Penh
    Bài gởi
    3,558
    Cảm ơn
    8,095
    Được cảm ơn 18,174 lần trong 3,840 bài viết

    Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong doanh nghiệp xây lắp

    Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong doanh nghiệp xây lắp


    Nguồn : Tạp chí kế toán


    Trong xây dựng cơ bản cũng như các ngành khác, vật liệu sử dụng cho công trình, hạng mục công trình nào thì phải được tính trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó dựa trên cơ sở chứng từ gốc theo giá thực tế của vật liệu và số lượng thực tế vật liệu đã sử dụng. Cuối kỳ hạch toán hoặc khi công trình đã hoàn thành, tiến hành kiểm kê số vật liệu còn lại tại công trình để giảm trừ chi phí vật liệu đã tính cho từng hạng mục công trình, công trình. Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không thể tổ chức kế toán riêng được thì phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ cho các đối tượng liên quan.

    Tiêu thức phân bổ thường được sử dụng là phân bổ theo định mức tiêu hao theo hệ số, trọng lượng, số lượng sản phẩm...

    Công thức phân bổ như sau:

    Chi phí vật liệu phân bổ cho từng đối tượng = Tiêu thức phân bổ của từng đối tượng x (nhân) (Tổng chi phí vật liệu cần phân bổ/(chia) Tổng tiêu thức lựa chọn để phân bổ của các đối tượng)

    *Chứng từ sử dụng:

    - Hoá đơn bán hàng, hóa đơn giá trị gia tăng

    - Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho.

    - Giấy đề nghị tạm ứng, phiếu chi.

    - Hoá đơn mua bán…

    Vật liệu mua về có thể nhập kho hoặc có thể xuất thẳng cho công trình. Trường hợp các đơn vị thi công tự đi mua vật tư thì chứng từ gốc là hoá đơn kiêm phiếu xuất kho của người bán. Phiếu xuất kho và chứng từ liên quan như hoá đơn vận chuyển tạo thành bộ chứng từ được chuyển về phòng kế toán làm số liệu hạch toán.

    *TK sử dụng: Tài khoản 621 dùng để tập hợp chi phí nguyên vật liệu dùng cho sản xuất phát sinh trong kỳ, cuối kỳ kết chuyển sang tài khoản tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Kết cấu TK 621 như sau:

    Bên Nợ: Trị giá gốc thực tế của nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm xây lắp.

    Bên Có: Trị giá nguyên liệu vật liệu sử dụng không hết nhập kho, Kết chuyển chi phí NVL vào TK 154- Chi phí SXKD dở dang

    TK 621 không có số dư cuối kỳ. Tài khoản này được mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình.

    - Căn cứ vào đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và giá trị vật liệu sử dụng, kế toán ghi:

    Nợ TK 621: Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp.

    Nợ TK 133: VAT được khấu trừ (nếu có).

    Có TK 152: nguyên vật liệu.

    Có TK 111, 112, 331…

    - Cuối kỳ hạch toán và hoàn thành hạng mục công trình kế toán và thủ kho kiểm kê số vật liệu còn lại chưa dùng để ghi giảm trừ chi phí vật liệu đã tính cho từng đối tượng hạch toán chi phí.

    - Nếu nhập lại kho nguyên vật liệu, giá trị vật liệu còn có thể chưa sử dụng hết, giá trị phế liệu thu hồi kế toán ghi:

    Nợ TK 152: Vật liệu, nguyên liệu

    Có TK 621: Chi phí NVL trực tiếp

    - Cuối kỳ căn cứ vào giá trị kết chuyển hoặc phân bổ nguyên vật liệu cho từng hạng mục công trình, kế toán ghi:

    Nợ TK 154: Chi phí SXKD dở dang

    Có TK 621: Chi phí NVL trực tiếp

    Thông qua kết quả hạch toán chi phí vật liệu tiêu hao thực tế theo từng nơi phát sinh, cho từng đôí tượng chịu chi phí thường xuyên kiểm tra đối chứng với định mức và dự toán để phát hiện kịp thời những lãng phí mất mát hoặc khả năng tiết kiệm vật liệu, xác định nguyên nhân, người chịu trách nhiệm để xử lý hoặc khen thưởng kịp thời.

    Ta có thể thấy quá trình hạch toán qua sơ đồ sau:


    SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP


    Vũ Thị Dịu


Trang 1/6 1 2 3 4 5 ... cuốicuối

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đang xem đề tài này. (0 thành viên và 1 khách)

Bookmarks

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • Bạn không thể đăng đề tài mới
  • Bạn không thể đăng trả lời
  • Bạn không thể đăng file đính kèm.
  • Bạn không thể sửa bài viết.
  •  

Mudim v0.8 Tắt VNI Telex Viqr Tổng hợp
Chính tả Bỏ dấu kiểu mới  [Bật/Tắt (F9)]